Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Cát cánh: long đờm, trị viêm

Cát cánh chứa các saponin triterpen, phytosterol và nhóm chất tanin. Theo Đông y, cát cánh vị đắng cay, tính hơi ôn; vào kinh phế. Có tác dụng tuyên phế, khứ đàm, lợi yết, bài nùng, khai thông phế khí. Chữa chứng ho nhiều đờm, họng đau nói khàn, viêm họng, lỵ, tiểu tiện không lợi. Liều dùng: 4-12g.

Xin giới thiệu một số đơn thuốc có cát cánh:

Chữa ho đờm ướt (đàm ẩm), tức ngực, nhiều đờm:

Bài 1: cát cánh 8g, tỳ bà diệp (lá nhót tây) 12g, lá dâu 12g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang, uống liền 2 - 4 ngày. Chữa ho do nóng, đờm dính quánh.

Bài 2: cát cánh 8g, hạnh nhân 12g, tía tô 12g, bạc hà 4g. Sắc uống. Uống liền trong 2 - 4 ngày. Chữa ho do lạnh, đờm loãng.

Bài 3: cát cánh 6g, trần bì 6g, bán hạ chế 6g, mạch môn sao 6g, ngưu tất 6g, ngũ vị tử 6g, tiền hồ 6g, ma hoàng 6g. Sắc uống. Chữa ho suyễn nhiều đờm

Cát cánh: long đờm, trị viêmCát cánh.

Chữa khó thở, họng sưng đau (viêm amidan, viêm họng):

Bài 1 - Thang cát cánh: cát cánh 8g, cam thảo 4g. Sắc uống hoặc tán thành bột uống. Chữa họng sưng đau. Chữa phế ung (áp-xe phổi) dùng liều cao hơn gấp 3 - 5 lần.

Bài 2: cát cánh 8g, kim ngân hoa 12g, liên kiều 12g, cam thảo sống 4g. Sắc uống. Chữa viêm amidan.

Chữa cam răng, miệng hôi: Cát cánh, hồi hương; liều lượng bằng nhau, tán bột. Chấm bột vào nơi răng bị cam đã rửa sạch.

Tống mủ, tiêu tan u nhọt:

Bài 1: cát cánh 4g, cam thảo sống 4g, rau diếp cá 8g, bối mẫu 8g, nhân ý dĩ 20g, nhân hạt bí trắng 24g, rễ cỏ tranh 63g, dây kim ngân 12g. Sắc uống. Chữa viêm phổi, đau tức ngực, ho thổ ra đờm.

Bài 2: cát cánh 10g, trần bì 10g, hương phụ 10g, đương quy 15g, mộc hương 5g. Sắc uống. Trị đau tức ngực do chấn thương lâu ngày.

Kiêng kỵ: Người âm hư, ho lâu ngày và có chiều hướng ho ra máu đều không nên uống.

TS. Nguyễn Đức Quang

Thuốc Nam trị bệnh đái tháo đường

Vài năm gần đây nhiều học giả đã không ngừng khám phá không ít các thành phần hoạt tính có trong dược thảo giúp hạ đường huyết, trong đó có một số đã đưa vào sử dụng trên lâm sàng.

Từ dược liệu cổ truyền tìm ra các thành phần hoạt tính thiên nhiên để điều trị bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một lối đi quan trọng trong phát triển hình thành thuốc mới. Hiện nay, người ta khám phá ra thành phần chính giảm đường huyết gồm nhiều loại kết cấu hóa học như: polysaccharides, terpenoids, flavonoids, alcaloids…

Địa hoàng (sinh địa)

Rễ củ tươi hay phơi khô từ cây địa hoàng Rehmannia glutinosa Libosch gồm sinh địa (Radix Rehmanniae) và thục địa (Radix Rehmanniae Preparata). Thuộc họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae).

Bài thuốc ứng dụng:

Bài 1: sơn thù 10g, hoài sơn 15g, sinh địa 12g, mẫu đơn bì 12g, trạch tả 12g, phục linh 12g, sắn dây 15, hạt vải (lệ chi hạch) 30g, sắc uống. Ngày 1 thang, uống 2 lần vào sáng và chiều, 1 tháng là 1 liệu trình.

Công dụng: ôn thận dương, ích thận khí, tư thận âm, tế thận thủy. Hoài sơn trong thang thuốc bổ tỳ âm để hấp thu chất tinh vi; sơn thù thu liễm can khí, làm cho thủy cốc (chất dinh dưỡng) hạ lưu (đi xuống); sinh địa bổ thận dưỡng âm.

Ứng dụng: dùng cho người bệnh đái tháo đường thể thận âm hư suy.

Bài 2: thục địa 20g, huyền sâm 15g, tri mẫu 10g, mạch đông 20g, vỏ kén (tằm) 20 con, hoài sơn (sống) 20g, trạch tả 10g, hoàng kỳ (sống) 20g, phục linh 10g, thương truật 10g, sắc uống. Ngày 1 thang, uống 2 lần vào sáng và chiều, 10 ngày là 1 liệu trình.

Công dụng: tư âm thanh nhiệt, kiện tỳ khu thấp, bổ phổi sinh tân, ích thận liễm tinh.

Ứng dụng: dùng cho người bệnh đái tháo đường.

Kết quả: dùng điều trị 30 ca, uống thuốc 1 - 2 liệu trình, các triệu chứng biến mất, đường huyết đường niệu được kiểm tra liên tục trong 3 tháng đều bình thường, thuộc nhóm khống chế được bệnh gồm 20 ca, triệu chứng biến mất, đường huyết đường niệu giảm xuống gần như bình thường, thuộc nhóm hiệu quả thấy rõ gồm 8 ca, triệu chứng được cải thiện, đường huyết đường niệu có giảm, thuộc nhóm có hiệu quả gồm 1 ca, triệu chứng và đường huyết đường niệu không có cải thiện thấy rõ, thuộc nhóm vô hiệu gồm 1 ca, tổng hiệu suất đạt 96,7%.

Bài 3: sinh địa 30g, hồ hoàng liên 6g, đơn bì 10g, chi tử (sống) 10g, huyền sâm 18g, thỏ ty tử 30g, tri mẫu 12g, thiên hoa phấn 25g, thạch cao (sống) 30g, sắc uống. Ngày 1 thang.

Công dụng: tư âm thanh nhiệt.

Ứng dụng: người bệnh đái tháo đường kèm bệnh mạch vành. Miệng khát mất sức, tiểu nhiều, đau tức ngực sườn, gầy ốm yếu sức, váng đầu ù tai, bụng đầy bụng đau, bắt mạch thấy trầm tế.

Bài 4: hoàng kỳ (sống) 50g, thái tử sâm 15g, sinh địa 15g, huyền sâm 15g, đào nhân 10g, hồng hoa 10g, đương quy 12g, xích thược 12g, giun đất 12g, tang ký sinh 10g, xuyên ngưu tất 10g, sắc uống. Ngày 1 thang.

Công dụng: ích khí dưỡng âm, hoạt huyết thông kinh lạc.

Ứng dụng: người bệnh đái tháo đường kèm diễn biến bệnh mạch máu não ở thể âm dương lưỡng hư kèm huyết ứ. Có triệu chứng miệng khát, liệt nửa người, chi mềm không sức, mắt miệng méo lệch, bắt mạch thấy trầm tế vô lực.

Sắn dây (cát căn)

Sắn dây (Radix Puerariae) là rễ phơi khô từ cây có tên khoa học Pueraria lobata (Willd.) Ohwi hay P. Thomosonii Benth. Thuộc họ Đậu (Fabaceae).

Bài thuốc ứng dụng:

Bài 1: sắn dây 50g, sinh địa 25g, hoàng liên 10g, cam thảo 3g, sắc uống ấm 2 lần, ngày 1 thang. 1 tháng là 1 liệu trình. Sau khi lành bệnh làm món ăn bài thuốc để củng cố (sắn dây 100 - 250g, thêm thức ăn gia vị tiềm ăn).

Công dụng: kiện tỳ ích thận, dưỡng âm thanh nhiệt.

Ứng dụng: bệnh đái tháo đường týp 2. Ăn nhiều, đói khát, mỏi mệt, người bệnh thiên nhiều thể vị âm hư thêm sơn dược 15g, hồng sâm 10g. Người có phiền khát; tiểu nhiều, táo bón, chóng mặt, hoa mắt, thiên nhiều thể thận âm hư thêm hoàng tinh 15g, câu kỷ tử 15g, tri mẫu 10g. Người miệng khát thèm uống; cổ họng khô nóng; nhiều mồ hôi, đoản hơi lười nói, thiên nhiều phế táo âm hư thêm hoàng kỳ 30g, mạch đông 15g, thiên hoa phấn 15g. Bài thuốc này dùng điều trị 64 ca, chữa khỏi 56 ca, biến chuyển tốt 4 ca, tổng hiệu quả đạt tỉ lệ 93,75%.

Bài 2: sắn dây 25g, câu kỷ tử 25g, đơn sâm 15g, sắc hai nước, lấy nước 400ml, mỗi buổi sáng trước khi ăn và buổi chiều sau khi ăn uống 200ml, ngày 1 thang, 2 tháng là 1 liệu trình.

Công dụng: giải khát giảm đường.

Ứng dụng: bệnh đái tháo đường. Người có kèm bệnh mạch vành thêm hoàng kỳ; hổ phách, tam thất, đơn sâm, long xỉ. Người kèm cao huyết áp thêm hạ khô thảo; cúc hoa, câu đằng, sinh địa, linh dương giác. Người kèm lao phổi thêm bách bộ, bách hợp, miết giáp, tri mẫu. Bài thuốc dùng chữa 40 ca đái tháo đường với 1 liệu trình 2 tháng, lành bệnh 30 ca, biến chuyển tốt 8 ca, không hiệu quả 2 ca.

Bài 3: sắn dây 20g, ngọc trúc 20g, ích mẫu 20g, mạch đông 15g, mạch nha (sao) 15g, câu kỷ tử 12g, lá dâu 12g, mẫu đơn bì 12g, kiết cánh 9g, trạch tả 9g, đơn sâm 18g, sắc uống. Ngày 1 thang.

Công dụng: ích âm hoạt huyết, giảm đường giảm béo.

Ứng dụng: bệnh đái tháo đường hay bệnh đái tháo đường kèm biến chứng cao mỡ máu.

LY.DS. DŨNG LỰC

4 thể mất ngủ và thuốc chữa

Mất ngủ là chứng bệnh khá phổ biến hiện nay. Người bệnh khó đi vào giấc ngủ hay ngủ không ngon giấc, ngủ chập chờn, thức dậy khó ngủ lại, thời gian ngủ ngắn, có khi một đêm chỉ ngủ được 2-3 giờ, thậm chí thức trắng đêm, ăn vào bụng đầy khó ngủ, đêm đi tiểu nhiều lần làm mất ngủ... Nếu kéo dài, người bệnh mệt mỏi, suy nhược, ảnh hưởng đến công việc và sinh hoạt hằng ngày.

Theo sách của Hải Thượng Lãn Ông, “ mất ngủ bởi âm huyết có thiếu, ba tạng tâm, can, tỳ đều có bị tổn thương”. Lý luận còn cho rằng “sự ngủ lấy gốc ở âm huyết, mọi nguyên nhân dẫn đến chân âm huyết hao tổn, âm tinh không đủ để nuôi dưỡng lên tâm não đều có thể dẫn đến mất ngủ hoặc gây rối loạn giấc ngủ”. Sau đây là một số bài thuốc cổ phương phòng trị chứng mất ngủ theo thể chứng thường gặp:

Mất ngủ thể tâm tỳ hư

Người bệnh ngủ chập chờn không sâu, mơ màng, mệt mỏi ăn ít. Phép trị chủ yếu bổ tâm tỳ. Dùng bài Quy tỳ thang gia giảm gồm: đảng sâm 12g, bạch truật 12g, phục thần 14g, đương quy 16g, chích hoàng kỳ 14g, táo nhân 12g, viễn chí 10g, long nhãn 12g, mộc hương 6g, chích thảo 4g, đại táo 3 quả, bá tử nhân 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Tác dụng: kiện tỳ, dưỡng tâm, ích khí, bổ huyết... Bài này rất thích hợp với chứng mất ngủ hay quên, mệt mỏi, ăn không ngon, ngủ mơ màng không sâu, tim hồi hộp.

4 thể mất ngủ và thuốc chữa

4 thể mất ngủ và thuốc chữa

Long nhãn và bạch truật là 2 vị thuốc trong bài Quy tỳ thang gia giảm trị mất ngủ thể tâm tỳ hư.

Mất ngủ thể tâm âm hư

Người bệnh khó ngủ, tâm hồi hộp bứt rứt có khi ngủ hoảng sợ. Dùng bài: Dưỡng tâm thang gia giảm gồm: bá tử nhân 12g, táo nhân 12g, đương quy 14g, phục thần 12g, ngũ vị 8g, nhân sâm 12g, mạch môn 12g, thục địa 20g, huyền sâm 12g, thạch xương bồ 6g, cam thảo 4g, đại táo 3 quả. Sắc uống ngày 1 thang, không uống vào buổi tối. Tác dụng: dưỡng tâm, thanh nhiệt, an thần. Bài này thích hợp với chứng tâm âm hư, mất ngủ suy nhược.

Mất ngủ thể thận âm hư

Người bệnh có biểu hiện đêm tiểu nhiều lần mất ngủ, có khi chập tối khó ngủ, về khuya mới ngủ được, hay bị váng đầu ù tai. Nguyên nhân do âm hư hỏa động. Dùng bài Lục vị hoàn gia giảm gồm: thục địa 30g, hoài sơn 20g, đơn bì 16g, sơn thù 14g, phục linh 12g, trạch tả 10g, táo nhân 12g, câu kỷ tử 12g, bá tử nhân 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Tác dụng: bổ thận âm, ích can, an thần, bài này thích hợp chứng thận âm hư mất ngủ, người gầy nóng trong, miệng khô khát.

Nếu đêm về sáng thấy lạnh bụng sôi bụng, đi ngoài mà không ngủ được là do thận dương hư. Dùng bài trên gia thêm nhục quế 6g, phụ tử 6g, can khương 10g.

Mất ngủ thể tỳ khí hư

Người bệnh thường biểu hiện ăn vào bụng đầy, chậm tiêu, khó ngủ. Phép trị: kiện tỳ, tiêu trệ, an thần. Dùng bài Lục quân tử thang gia giảm gồm: bạch truật 12g, đảng sâm, bạch linh 16g, trần bì 12g, bán hạ 8g, chỉ thực 10g, liên nhục 14g, mộc hương 6g, sơn tra 12g, mạch nha 12g, thần khúc 14g, chích thảo 4g. Săc uống ngày 1 thang. Tác dụng: ích khí, kiện tỳ, hóa trệ, an thần. Bài này rất thích hợp cho người bị chứng tỳ khí hư bụng đầy trướng làm khó ngủ, nhiều đàm, rối lạn tiêu hóa.

Trên đây là một số bài thuốc cổ phương thường được các thế hệ thầy thuốc Đông y gia giảm vận dụng chữa mất ngủ rất hiệu quả. Tuy nhiên, phòng trị mất ngủ cần phải lựa chọn bài thuốc phù hợp thể chứng mỗi người mới trị được tận gốc.

BS. Nguyễn Phan Trúc Nguyên



Món ăn bài thuốc mạnh gân xương

Với triệu chứng bệnh lý đau nhức mỏi sâu trong xương, thuộc phạm vi chứng “cốt nuy”, Y học cổ truyền cho là do thận hư. Y học hiện đại gọi là bệnh loãng xương. Ngoài ra, mệt mỏi, nhược cơ... cũng thường gặp ở những người loãng xương. Vì vậy, người bệnh phải hết sức cẩn thận khi hoạt động thể lực mạnh, đi lại cũng phải hết sức thận trọng tránh ngã, vấp, khuỵu, gập chân, tay, nhất là lên cầu thang vì rất dễ gây gãy xương. Dưới đây là một số món ăn bài thuốc có tác dụng bổ thận, kiện tỳ, làm mạnh gân cốt để bạn đọc tham khảo và áp dụng khi cần thiết:

Nếu lưng đau, gối mỏi, buồn nhức các đầu ngón tay và chân, lòng bàn tay và bàn chân nóng, trong ngực chộn rộn không yên, môi khô miệng khát, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ…, dùng 1 trong số bài thuốc sau:

Bài 1: đậu đen 500g, sơn thù 10g, bạch linh 10g, đương quy 10g, tang thầm 10g, thục địa 10g, bổ cốt chi 10g, thỏ ty tử 10g, hạn liên thảo 10g, ngũ vị tử 10g, kỷ tử 10g, địa cốt bì 10g, vừng đen 10g, muối ăn 100g. Đậu đen rửa sạch, ngâm nước ấm trong 30 phút; Các vị thuốc khác đem sắc kỹ 4 lần, mỗi lần chừng 30 phút, hợp 4 nước lại với nhau; tiếp đó bỏ đậu đen và muối vào sắc kỹ cùng dịch thuốc bằng lửa nhỏ cho cạn, lấy đậu đen ra phơi hoặc sấy thật khô, đựng vào lọ kín dùng dần; mỗi ngày ăn với lượng tuỳ thích, chừng 20 - 30g là được.

Loãng xương có thể dẫn đến gãy xương.

Bài 2: quả dâu chín 2.500g, thục địa 50g, hoài sơn 50g, hoàng tinh 50g, thiên hoa phấn 100g. Tang thầm rửa sạch, ép lấy nước cốt; các vị thuốc khác đem sắc kỹ lấy 500ml dịch chiết rồi hoà với nước dâu, tiếp tục cô nhỏ lửa cho đến khi thành cao đặc là được, đựng trong bình thuỷ tinh kín miệng để dùng dần, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 thìa canh.

Nếu lưng đau gối mỏi, móng tay và móng chân khô giòn, hay bị chuột rút, thể trạng gầy yếu, hoa mắt chóng mặt, thị lực giảm, nghe kém, tai ù, tâm trạng bức bối không yên, lòng bàn tay và bàn chân nóng, gãy xương, miệng khô họng khát, lưỡi đỏ, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ…, dùng 1 trong số bài thuốc sau:

Bài 1: tang thầm 30g, kỷ tử 30g, gạo tẻ 80g. Các vị thuốc rửa sạch đem nấu với gạo thành cháo, thêm đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày.

Bài 2: bột bạch linh, bột mì, bột xương dê, bột mẫu lệ lượng bằng nhau. Trộn đều các loại bột với nhau, cho lượng nước vừa đủ, nhào thật kỹ, chế thêm mỡ và muối rồi nặn thành những chiếc bánh nhỏ, nướng chín, dùng làm đồ ăn điểm tâm hàng ngày.

Bài 3: quy bản 100g, vỏ trứng gà 100g, đường trắng 50g. Quy bản và vỏ trứng rửa sạch, để ráo nước rồi sao giòn và nghiền thành bột, thêm đường trộn đều, ngày ăn 2 lần, mỗi lần 5g.

Nếu lưng đau gối mỏi, ăn kém, toàn trạng mệt mỏi, sợ lạnh, chân tay lạnh, chậm tiêu bụng trướng, đại tiện lỏng, có thể có phù nhẹ hai chân, nam giới liệt dương, di tinh, nữ giới kinh nguyệt không đều, miệng nhạt, chất lưỡi nhợt…, dùng một trong số bài thuốc sau:

Bài 1: chim sẻ 5 con, kỷ tử 20g, đại táo 15g, gạo tẻ 60g. Chim sẻ làm thịt, bỏ lông, chân và phủ tạng đem hầm với kỷ tử và gạo tẻ thành cháo, thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.

Bài 2: cá ngựa 50g, dương vật và tinh hoàn bò 500g, đan sâm 500g, hoàng kỳ 250g, a giao 250g, hạch đào nhân 250g, đường phèn 250g. Tinh hoàn và dương vật bò rửa sạch, thái miếng; Cá ngựa sao khô tán thành bột mịn; A giao tẩm rượu sao phồng; Hoàng kỳ và đan sâm sắc kỹ lấy nước cốt rồi cho bột cá ngựa, hạch đào nhân, a giao, đường phèn, tinh hoàn và dương vật bò vào cô nhỏ lửa thành cao đặc, đựng trong lọ thuỷ tinh kín miệng để dùng dần, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 thìa canh.

Bài 3: xương sống chó 200g, đẳng sâm 10g, thỏ ty tử 10g, thục địa 10g, gia vị vừa đủ. Xương chó rửa sạch, chặt nhỏ; các vị thuốc cho vào túi vải buộc kín miệng; tất cả cho vào nồi hầm mềm, thêm gia vị, dùng làm canh ăn hằng ngày.

Bài 4: tôm nõn 50g, trứng gà 1 quả, rau hẹ 200g, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Tôm rửa sạch, rau hẹ cắt đoạn, phi thơm hành mỡ rồi cho rau hẹ và tôm vào xào to lửa, khi gần chín, đập trứng vào đảo đều một lát là được, dùng làm thức ăn hằng ngày.

ThS. Hoàng Khánh Toàn

Bài thuốc phòng trị sốt rét thể thông thường

Bệnh sốt rét là một bệnh truyền nhiễm thường thấy ở các nước vùng nhiệt đới. Bệnh gây ra do loại ký sinh trùng. Theo Ðông y, bệnh sốt rét nằm trong chứng bệnh ngược tật, đó là đúng thời gian lại phát chứng hàn nhiệt.

Y học cổ truyền phương Đông có nhiều bài thuốc phòng trị bệnh sốt rét. Các bài thuốc chữa sốt rét gồm 2 loại: bài thuốc trực tiếp chữa sốt rét; bài thuốc nâng cao thể trạng hỗ trợ trị bệnh sốt rét kéo dài.

Bài thuốc chữa sốt rét

Bài 1: cây cam thìa 100g (thanh hao), lá thường sơn 100g, thảo quả 80g, hà thủ ô trắng 50g, hạt cau 30g, vỏ chanh 30g, miết giáp 20g, cam thảo nam 30g. Các vị tán bột. Ngày dùng 40g.

Bài 2 - Thanh tỳ ẩm: thanh bì 8g, thảo quả 8g, sài hồ 8g, bán hạ chế 8g, chích cam thảo 6g, hậu phác 8g, bạch truật 8g, hoàng cầm 8g, phục linh 15g, sinh khương 5 lát. Sắc uống ngày 1 thang. Tác dụng thanh nhiệt táo thấp hóa đàm; Chặn cơn sốt rét, chữa sốt rét kéo dài; Sốt nóng nhiều rét ít hay sốt nhiều không rét, cơ hoành đầy, không ăn được, miệng đắng, lưỡi khô, bứt rứt, khát nước, tiểu tiện vàng đỏ, đại tiện bí kết, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch huyền sác.

Thanh bì (vỏ quả quýt phơi sấy khô) là vị thuốc trong bài “Thanh tỳ ẩm” trị sốt rét kéo dài.

Thanh bì (vỏ quả quýt phơi sấy khô) là vị thuốc trong bài “Thanh tỳ ẩm” trị sốt rét kéo dài.

Bài 3 - Thường sơn ẩm: thường sơn 12g, binh lang 8g, bối mẫu 8g, gừng nướng 5 lát, thảo quả 8g, tri mẫu 8g, ô mai 8g, đại táo 3 quả. Sắc uống trước khi lên cơn sốt 2-3 giờ. Tác dụng: khu đàm tiệt ngược. Trị sốt rét phát tác lâu ngày không khỏi, sốt cao, miệng khát lưỡi khô.

Bài 4 - Thường sơn ẩm: thường sơn 12g, tri mẫu 8g, gừng nướng 5 lát, thảo quả 8g, cao lương khương 8g, chích thảo 6g, ô mai nhục 8g, đại táo 3 quả. Sắc uống trước khi lên cơn sốt 2-3 giờ. Tác dụng: thanh nhiệt tán kết, khử đờm, chặn cơn sốt rét. Trị sốt rét lâu ngày không khỏi, sốt khá cao, miệng khát lưỡi khô.

Bài 5 - Tiệt ngược thường sơn ẩm: thường sơn 12g, binh lang 8g, thảo quả 8g, tri mẫu 8g, ô mai 8g, xuyên sơn giáp 8g, chích thảo 6g. Sắc uống trước khi lên cơn sốt 2-3 giờ. Tác dụng: khu đàm tiệt ngược. Trị sốt rét lâu ngày không khỏi, sốt khá cao, miệng khát lưỡi khô.

Bài thuốc điều hòa cơ thể chữa sốt rét kéo dài: sài hồ 10g, ý dĩ 10g, mạch môn 10g, thanh hao 10g, tri mẫu 20g, xạ can 6g, hoàng đằng 10g, trần bì 10g, bán hạ chế 10g, chỉ xác 10g, cam thảo nam 10g, hoàng cầm 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Tác dụng: hòa giải thiếu dương. Chữa sốt rét; chứng cảm mạo lúc sốt lúc rét.

Lương y Thảo Nguyên

Cây qua lâu: Thanh nhiệt, chống viêm, cầm máu

Qua lâu có tên khác là dưa trời, dưa núi, hoa bát, vương qua (tên gọi ở miền Bắc) dây bạc bát, bát bát châu (tên miền Nam), người Tày gọi là thau ca.

Bộ phận dùng làm thuốc là vỏ quả, nhân hạt và rễ. Việc thu hái tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng. Muốn lấy quả và hạt thì rễ củ sẽ nhỏ. Còn nếu cho rễ củ to mập thì ngắt bỏ hoa để dinh dưỡng tập trung vào rễ.

Vỏ quả

Vỏ quả qua lâu được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là qua lâu bì. Dược liệu có vị ngọt, hơi chua, mùi hơi giống mùi đường sao cháy, tính hàn, không độc, có tác dụng: thanh nhiệt, chống viêm, cầm máu, chữa sốt nóng, ho, thổ huyết, thủy thũng, vàng da. Liều dùng hàng ngày 8-16g dưới dạng thuốc sắc. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:

Chữa viêm họng, khản tiếng: Qua lâu bì 10g, bạch cương tằm 10g, cam thảo 10g, gừng tươi 4g. Tất cả sắc với 200ml, còn 50ml, uống trong ngày.

Chữa viêm tuyến vú: Qua lâu bì 12g, bồ công anh 40g, kim ngân hoa 16g, liên kiều 16g, sài đất 8g, thanh bì 8g, hoàng cầm 12g. Sắc uống trong ngày.

Chữa đau thắt ngực: Qua lâu bì 12g, đan sâm, xuyên khung, trầm hương, uất kim (mỗi vị 20g), hồng hoa 16g, xích thược, hương phụ chế, hẹ (mỗi vị 12g), xuyên quy vĩ 10g. Sắc uống trong ngày.

Cây qua lâuCây qua lâu cho vị thuốc thiên hoa phấn thanh nhiệt, giải độc.

Nhân hạt

Hạt lấy ở quả già, chắc, mập, phơi hoặc sấy khô. Tên thuốc là qua lâu nhân. Khi dùng đập nhẹ cho vỏ tách đôi, bỏ vỏ lấy nhân, giã nát (dùng sống) để trừ nhiệt. Có thể tẩm mật ong sao qua (bổ phế) để khỏi rát cổ (dùng chín). Qua lâu nhân có vị ngọt, hơi đắng, tính hàn, vào các kinh phế, vị và đại trường. Có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm, nhuận phế, chống ho, nhuận tràng. Liều dùng 8-16g, dạng thuốc sắc, dùng phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:

Chữa viêm tắc động mạch: Qua lâu nhân 16g, đương quy, cam thảo (mỗi vị 20g), kim ngân hoa, xích thược, ngưu tất (mỗi vị 16g), huyền sâm, đào nhân, đan bì (mỗi vị 12g). Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa lao phổi: Qua lâu nhân 8g, sài hồ, hạ khô thảo, huyền sâm (mỗi vị 16g), bán hạ chế, chỉ xác, tang bạch bì (mỗi vị 8g). Sắc uống trong ngày.

Lưu ý: Người tỳ vị hư hàn không dùng qua lâu nhân. Dùng nhiều sinh tiêu chảy.

Rễ cây

Rễ qua lâu đào về, cạo bỏ vỏ ngoài, rửa sạch, cắt thành từng đoạn, rễ nhỏ để nguyên, rễ to bổ dọc, phơi hay sấy khô lấy tên thuốc là thiên hoa phấn.

Liều dùng 8-16g dưới dạng thuốc sắc, hoặc thái mỏng, giã nát, ngâm nước, lọc lấy bột, dùng mỗi lần 4-8g.

Vị thuốc thiên hoa phấn dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:

Chữa mụn nhọt lâu ngày: Thiên hoa phấn 8g, ý dĩ 12g, bạch chỉ 10g. Sắc hoặc tán bột uống.

Chữa sốt nóng do viêm họng, da vàng, miệng khô khát: Thiên hoa phấn 8g, rễ cây ké lớn đầu 8g, sắc uống trong ngày.

Chữa viêm amidan mạn tính: Thiên hoa phấn 8g, sinh địa 16g, hoài sơn, huyền sâm, ngưu tất (mỗi vị 12g), sơn thù, trạch tả, đan bì, phục linh, tri mẫu, địa cốt bì (mỗi vị 8g), xạ can 6g. Sắc uống trong ngày.

Chữa tắc tia sữa: Thiên hoa phấn 8g, bạch thược 12g, sài hồ, đương quy xuyên sơn giáp (mỗi vị 8g), thanh bì, cát cánh, thông thảo (mỗi vị 6g). Sắc uống trong ngày.

DS. Mai Thu Thủy

10 bài thuốc đông y trị bí tiểu

Đông y gọi bí tiểu tiện là lung bế, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến lung bế có thể là do thấp nhiệt, do huyết lâm, thạch lâm, hoặc do các cơ quan lân cận chèn ép làm cho niệu đạo bị bế tắc. Do vậy, cần có các phương thuốc giúp cho thanh nhiệt lợi thấp, thông tiểu, chống viêm, bài thạch…

Thông thường các bài thuốc Đông y chữa chứng bí tiểu khi cơ thể bị nhiệt, chức năng thận yếu hoặc hỗ trợ điều trị khi mắc các bệnh nhiễm khuẩn, viêm đường tiết niệu, các bệnh về thận có triệu chứng bí tiểu: Khi mắc bệnh có thể áp dụng một trong các bài thuốc đơn giản sau:

Bài 1: Lấy củ sắn dây cạo sạch vỏ, thái ra từng miếng phơi khô, đem sấy cho giòn. Sau đó giã nhỏ, đem rây thật mịn và hòa với đường uống. Dùng trong 10 ngày.

Bài 2: Bầu đất 30g, râu ngô 20g, mã đề 20g. Tất cả cho vào ấm đổ 550ml nước, sắc còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày, dùng 10 ngày.

mã đề

Mã đề.

Bài 3: Búp tre, rau má, mỗi thứ 20g, để tươi, rửa sạch, giã nát với vài hạt muối, thêm nước gạn uống ngày 2 lần. Uống 1 tuần.

Bài 4: Hoa súng 15g, râu ngô 15g, rễ cỏ tranh 10g, rau má 10g, rau diếp cá 10g. Tất cả cho vào ấm đổ 550ml nước, sắc còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày, dùng 10 ngày.

Bài 5: Kim anh tử 1,5kg, đường trắng vừa đủ dùng. Cách chế biến: Kim anh tử rửa sạch, nấu thành cao, cho thêm đường trắng, trộn đều, chữa chứng đái dắt ở trẻ em. Mỗi lần uống 1 thìa canh, ngày 2 lần.

Rau má.

Bài 6: Lá bìm bìm, lá mảnh cộng, dùng tươi, lượng bằng nhau 50g. Tất cả cho vào ấm đổ 550ml nước, sắc còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày, 10 ngày là một liệu trình.

Bài 7: Rễ cỏ tranh, râu ngô, bông mã đề, củ sả, đậu đen, lượng bằng nhau, tất cả rửa sạch, phơi khô, cho vào ấm đổ 550ml nước, sắc còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày, dùng trong 1 tuần.

Râu ngô.

Bài 8: Bồ công anh, mã đề, rau má, râu ngô, cam thảo dây, mía dò, rễ cỏ tranh, lượng bằng nhau, sắc uống ngày 2 - 3 lần. Tất cả rửa sạch, cho vào ấm đổ 750ml nước, sắc còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày, dùng trong 1 tuần.

Bài 9: Lấy 20 cái kê nội kim (mề gà) lột lấy lớp da vàng trong mề gà, rang cho cháy và tán thành bột mịn, chia làm 4 lần để uống. Mỗi ngày uống vài lần với nước sôi để nguội. Ngoài ra cần ăn thêm các loại hoa quả như chanh, cam hoặc đậu xanh nấu, trứng gà tươi. Kiêng ăn các loại cay nóng như ớt, hạt tiêu...

Bài 10: Lấy một miếng bí xanh bằng cái bát con, gọt bỏ vỏ ngoài, giã vắt lấy nước và hòa thêm chút muối để uống, hoặc gọt vỏ ăn sống, hoặc luộc bí xanh ăn và uống cả nước. Dùng trong 10 ngày.

Bác sĩ Nguyễn Hữu

6 lợi ích tuyệt vời của nước ép gừng

Giúp kiểm soát bệnh tiểu đường Gừng có thuộc tính chống tiểu đường và có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nó giúp làm giảm hàm lượng đường huyết...