Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Da động vật làm thuốc

Da trâu

Da trâu cạo bỏ hết lông, thịt, gân, màng, cắt thành từng miếng, phơi hay sấy khô. Khi dùng, để nguyên bản hoặc chế biến thành keo theo cách ngâm da trâu vào nước vôi trong 1 ngày đêm. Sau đó, rửa sạch, luộc chín, rồi cắt nhỏ, nấu với nước xâm xấp và sôi liên tục trong 1 ngày, 1 đêm. Chắt lấy nước thứ nhất. Thêm nước, tiếp tục nấu để được nước thứ hai, thứ ba. Gộp các nước chắt lại, lọc kỹ, cô cách thủy thành cao đặc, tên thuốc là minh giao. Dược liệu có vị mặn, ngọt, mùi hơi tanh, tính bình, không độc, có tác dụng giảm đau, cầm máu, nhuận táo, có công dụng trị phong thấp, chân tay đau nhức, tiểu són, động thai, thổ huyết.

Danh y Tuệ Tĩnh đã dùng cao da trâu trong những trường hợp sau:

Chữa đau vú: keo da trâu nấu với ít giấm cho tan, rồi đắp dán.

Chữa động thai: keo da trâu 20g, tầm gửi cây dâu 50g, lá ngải cứu 12g, thái nhỏ, phơi khô, sắc uống trong ngày.

Chữa thổ huyết, băng huyết, đái ra máu: cao da trâu 4g, sợi bông 4g, đốt thành tro uống trong ngày.

Sản phụ bị rong huyết do cơ năng: cao da trâu 20g, ngải cứu tươi 15g, ngũ bội tử 15g tán bột. Sắc ngải cứu lấy nước, bỏ bã, thái cao da trâu cho vào đun loãng ra, rồi hòa với bột ngũ vị tử, uống ngày 1 thang.

Chữa tiểu són: cao da trâu, vỏ hàu (nung đỏ), lộc nhung, tang phiêu diêu (sao với rượu), liều lượng bằng nhau, tán nhỏ, rây bột mịn, trộn với hồ nếp hoàn viên bằng hạt ngô. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 25 viên với nước muối pha ít rượu vào lúc đói.

Chữa rong kinh, băng huyết: cao da trâu 10g, muội nồi 8g, cao ích mẫu 3g, trộn đều, uống với nước đun sôi để nguội.

Chữa phong thấp, chân tay đau nhức: da trâu 40g, ngâm nước cho mềm, cắt nhỏ, trộn nước cốt gừng, nấu nhỏ lửa cho đặc quánh. Để nguội, phết thuốc lên giấy, dán vào chỗ đau.

Thuốc cầm máu theo kinh nghiệm dân gian: da trâu khô đốt thành than, tán nhỏ, rắc vào nơi tổn thương.

Da rắn

Da rắn còn gọi là xác rắn lột được lấy từ nhiều loại rắn, nhưng tốt nhất là rắn ráo. Dùng sống hoặc phun rượu cho ướt đều, ủ cho ấm rồi sao nhẹ cho khô. Dược liệu có vị ngọt mặn, hơi tanh, tính bình, không độc, có tác dụng sát khuẩn, chống viêm, giải độc.

Da động vật làm thuốcDa rắn (xác rắn lột) chống viêm, chữa bệnh trĩ.

Chữa viêm họng: Xác rắn lột cho vào ống tre, đốt lấy khói xông vào cổ họng.

Thuốc đắp chữa nhọt cứng sần (không có mủ): xác rắn lột cắt nhỏ, sao qua, tán bột, tẩm với rượu cho thành bánh, đắp vào nơi tổn thương

Chữa bệnh ngoài da, đầu vú bị nứt nẻ: xác rắn 100g đốt tồn tính, tán nhỏ, rây bột mịn; củ ráy dại 100g, nghệ vàng 100g để tươi, thái mỏng, cho vào dầu vừng, rán khô, bỏ bã. Trộn bột xác rắn lột với dầu các dược liệu, bôi hàng ngày.

Chữa bệnh trĩ: xác rắn lột 1 cái, lá cam sành 1 nắm, phơi khô, đốt thành than, tán bột, hòa với nước cơm bôi.

Đồng bào Thượng ở Tây Nguyên lại dùng xác rắn lột nấu nước uống chữa da khô, ngứa ngáy, hay bong vảy.

Da lừa

Da lừa nấu thành cao gọi là a giao hay cao da lừa thường được dùng làm thuốc bổ. Theo Đông y, a giao có vị ngọt, tính bình, không độc, vào 3 kinh: phế, can, thận. A giao có tác dụng dưỡng huyết, chữa hư hao gầy gò, xuất huyết tiêu hóa, ho ra máu, chảy máu cam... với liều dùng hàng ngày là 6-12g. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc trong các trường hợp sau:

Chữa tăng huyết áp, kinh nguyệt nhiều: a giao 6g, bồ hoàng 5g, cam thảo 2g. Tất cả thái nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm 1 lần trong ngày.

Chữa ho ra máu: a giao 8g sao cho phồng, đơn bì 12g, bạch linh 6g, mạch môn 12g; sơn thù, trạch tả tẩm muối sao, hoài sơn mỗi vị 16g, thục địa 60g. Tất cả sấy khô, tán nhỏ, rây bột mịn, làm viên 10g. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 3 viên.

Chữa đại tiện ra máu: a giao 12g sao cho phồng, đương quy 8g, xích phục linh 8g, hoàng liên 12g, hoàng nghiệt 6g sao đen, ô mai 6g, gừng nướng thành than 4g, xích thược 2g. Sắc uống.

Trị huyết nhiệt, tiểu ra máu: a giao 4g sao phồng, sinh địa 8g, hoàng cầm đã sao 20g, trắc bá diệp (sao) 4g. Sắc uống sau bữa ăn.

DS. Đặng Văn Nam

Chứng can đởm thấp nhiệt trong Đông y

Nguyên nhân là do thấp nhiệt ngăn trở sự sơ tiết của can đởm, làm cho chức năng của can đởm bị tổn thương hoặc do thấp nhiệt theo đường kinh dồn xuống mà gây nên. Chứng này có thể do cảm nhiễm ngoại tà thấp nhiệt hoặc do ăn nhiều các thức ăn béo ngọt, cay nóng, uống nhiều rượu bia nung nấu thành thấp nhiệt hoặc do sự vận hóa của tỳ vị thất thường, thấp nhiệt từ bên trong sinh ra, uất lại hóa thành nhiệt, kết tụ lại ở can và đởm mà sinh ra bệnh.

Biểu hiện: miệng đắng, ăn kém, buồn nôn, vùng bụng trướng đầy khó chịu, nước tiểu đỏ, đại tiện lúc táo lúc lỏng, mặt và mắt vàng, vùng sinh dục ẩm ướt và ngứa, tinh hoàn trướng đau, phụ nữ cũng ngứa ở bộ phận sinh dục, ra nhiều đới hạ có màu vàng và có mùi hôi, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch huyền sác. Tùy từng chứng trạng mà dùng bài thuốc phù hợp như sau:

Do thấp nhiệt uất kết ở can đởm, đường lạc của can không điều hòa, đởm mất sự sơ tiết mà sinh ra chứng hiếp thống (đau hai mạn sườn).

Triệu chứng: miệng đắng, liên sườn trướng đau, vùng ngực khó chịu, ăn kém, buồn nôn, chất lưỡi đỏ rêu lưỡi vàng nhớt, mạch huyền sác.

Chứng can đởm thấp nhiệt trong Đông y

Điều trị: Thanh nhiệt lợi thấp, sơ can lý khí.

Bài thuốc thường dùng: Long đởm tả can thang: Long đởm thảo 12g, trạch tả 12g, sinh địa 12g, sài hồ 4g, mộc thông 12g, xa tiền tử 12g, đương qui 8g, gia khổ luyện tử 12g, huyền hồ sách 12g. Ngày uống một thang, sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn.

Do thấp nhiệt nung nấu ở can đởm, can mất đi sự sơ tiết, đởm dịch không đi theo đường kinh mà tràn ra ngoài sinh chứng hoàng đản.

Triệu chứng: Do đởm dịch tràn ra ngoài, thấm vào bì phu cho nên mắt, mặt, bì phu có màu vàng, bụng trướng đầy, miệng đắng, ăn kém, đại tiện lỏng. Thấp nhiệt dồn xuống bàng quang nên nước tiểu có màu vàng.

Điều trị: Thanh nhiệt trừ thấp lợi tiểu.

Bài thuốc thường dùng: Nhân trần cao thang gia giảm. Nhân trần cao 36g, sơn chi tử 8g, đại hoàng 12g. Ngày uống một thang sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn tùy chứng trạng của bệnh nhân mà dùng liều lượng và gia giảm cho thích hợp.

Đường kinh của can, vòng qua bộ phận sinh dục, thấp nhiệt đi theo đường kinh dồn xuống mà sinh ra một số bệnh ở bộ phận sinh dục cả nam và nữ.

Triệu chứng: Nhiệt độc nung nấu ở trong, thấp nhiệt bị dồn xuống. Nam giới thì thấp chẩn ở âm namg, tinh hoàn sưng và đau. Nữ giới thì ngứa ở bộ phận sinh dục hoặc ra đới hạ màu vàng, mùi hôi, cục bộ có chỗ sưng đau và ngứa, có trường hợp chảy nước vàng, thường có kiêm chứng họng khô, miệng đắng, hàn nhiệt vãng lai, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch huyền sác.

Điều trị: Thanh nhiệt, lợi thấp giải độc.

Bài thuốc thường dùng: Long đởm tả can thang (như trên) gia: Kim ngân hoa 12g, liên kiều 12g, hoàng bá 12g. Nếu có sưng ngứa ở bên ngoài thì dùng một số lá như khổ sâm... đun lên để ngâm rửa.

Do thấp nhiệt nung nấu ở can, đởm, can đởm mất chức năng sơ tiết, thấp nhiệt dồn xuống bàng quang mà sinh ra chứng lâm (đái dắt).

Triệu chứng: Tiểu tiện đau, hay đái vội vàng, nước tiểu có màu vàng đỏ, thường có kiêm chứng đắng miệng, đau sườn, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch huyền sác hoặc huyền hoạt.

Điều trị: Thanh nhiệt, lợi thấp thông lâm.

Bài thuốc thường dùng: Trầm hương tán hoặc bài Bát chính tán: Trầm hương 20g, hoạt thạch 20g, thạch vi 20g, cam thảo 10g, vương bất lưu hành 20g, đương qui 20g, trần bì 10g, bạch thược 16g, đông quì tử 10g. Bài Bát chính tán xa: tiền tử 20g, cù mạch 12g, hoạt thạch 30g, chi tử 10g, mộc thông 8g, biển súc 12g, cam thảo 4g, đại hoàng 8g. Ngày uống một thang sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn.

TTND.BS. Nguyễn Xuân Hướng

Tắc kè chữa hen suyễn lâu ngày

Tắc kè thuộc loài bò sát, tên thuốc là cáp giới, nhìn giống như con thạch sùng nhưng to và dài hơn. Bộ phận dùng cả con đã chế biến bằng cách nhúng nước sôi hoặc dùng rượu làm sạch lông, vẩy, loại bỏ phủ tạng, đầu (chặt từ sau hai u mắt) và bàn chân. Có thể dùng tươi hay tẩm rượu nướng vàng để dùng.

Thành phần hóa học trong tắc kè có chứa chất béo, các acid amin tối cần thiết cho cơ thể, một số nguyên tố vi lượng, tỷ lệ hoạt chất ở đuôi cao hơn ở thân tắc kè nên khi chế biến phải bảo tồn đuôi mới tốt.

Theo Đông y, tắc kè vị mặn, tính ấm; quy vào hai kinh phế, thận.

Tác dụng bổ phế khí, ích tinh huyết, bổ thận dương dùng trị các bệnh hen suyễn lâu ngày, hư lao, ho ra máu, các chứng lưng đau, gối mỏi, tai ù, sinh lý kém, liệt dương, di tinh, phụ nữ kinh nguyệt không đều, các trường hợp suy nhược thần kinh, tinh thần mệt mỏi, lao động trí óc căng thẳng, toàn thân suy nhược. Liều dùng 3 - 5g bột.

Bài thuốc có tắc kè

Trường hợp suyễn cấp ở người cao tuổi thể trạng hư yếu thường hình thành chứng trên thực dưới hư, suyễn gấp đoản hơi, so vai để thở, đàm khò khè, lưng lạnh, sợ rét nặng hoặc sau khi đàm suyễn đã dịu cần phải ôn thận, nạp khí, hóa đàm, lợi phế, bình suyễn, chỉ khái:

Bài thuốc Cáp giới tứ tử phương: cáp giới 1 đôi, câu kỳ tử 12g, sa uyển tử 12g, tiền hồ 9g, trầm hương 2g, nữ trinh tử 12g, thỏ ty tử 12g, hạnh nhân 12g, tử uyển 9g. Tán bột hòa nước ấm uống mỗi lần 8g, ngày 2 - 3 lần.

Nếu kiêm chứng chân tay lạnh, thể trạng hàn quá nặng:

Bài thuốc Hạ thị suyễn chứng phương để ôn thận, nạp khí, hóa đàm, bình suyễn: cáp giới 1 đôi, trầm hương 6g, nhân sâm 15g, cam thảo 6g, trần bì 6g, phục linh 10g, tang bạch bì 10. Tán thành bột hòa nước chín uống, mỗi lần 8g.

Người cao tuổi mắc chứng suyễn khái nếu kiêm chứng lưỡi tối tía, môi tái thuộc dương hư huyết trệ, bệnh câu kết:

Bài thuốc Trần thị phù chính cố bản phương để phù chính, khử ứ, loại trừ gốc rễ của bệnh: nhân sâm, tam thất, xuyên bối, cáp giới, đông trùng hạ thảo lượng bằng nhau. Tán bột ngày uống 2 - 3 lần, mỗi lần 2g.

Rượu cáp giới nhân sâm dùng trong bữa cơm có tác dụng trợ dương, ích khí, hành ứ, thông mạch, bồi bổ cơ thể: cáp giới một đôi, nhân sâm 60g, rượu trắng 500ml ngâm 30 ngày trở lên, mỗi lần uống 10 - 15ml, ngày 2 lần.

Chữa tà khí ở vùng phế, trong ngực tích huyết gây đau, mất tiếng, ho lâu ngày mất tiếng.

Bài thuốc: tắc kè 1 đôi, sinh địa hoàng 80g, a giao 40g, kha tử 60g, mạch môn đông 80g, tế tân 30g, cam thảo 40g, hoàn viên bằng quả táo mỗi lần uống 1 viên, ngâm cho tan ra trước bữa ăn.

Chữa chứng khái suyễn lâu ngày, đờm đặc vàng, ho ra mủ lẫn máu, ngực bồn chồn, nóng, người gầy yếu, mạch phù hư hoặc lâu ngày thành phế nuy, phải bổ khí thanh phế, chỉ khái, bình suyễn:

Bài thuốc Nhân sâm cáp giới tán: cáp giới 1 đôi, hạnh nhân 5 lạng, cam thảo 5 lạng, nhân sâm 2 lạng, phục linh, bối mẫu, tang bì, tri mẫu đều 2 lạng, sao giòn, tán mịn, ngày 3 lần, mỗi lần 15g với nước chín.

Trường hợp suy nhược cơ thể, sinh lý yếu, liệt dương, di tinh, tiểu tiện nhiều lần, ngũ canh tả do thận dương hư, dùng: tắc kè 1 đôi, nhân sâm, ngũ vị tử 60g, hồ đào nhục 80g hoặc ba kích 60g, phục linh 40g, bạch truật 60g làm bột uống ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 15g.

DSCKI. Phạm Hinh

Chữa kinh bế, u xơ tử cung bằng cánh kiến đỏ

Tử trùng giao, tên dân gian là cánh kiến đỏ, tên thuốc trong y học cổ truyền là tử giao, xích giao, tử khoáng, tử thảo nhung, tử ngạnh, hoa một dược, là nhựa của tổ con rệp (bọ rùa) cánh kiến đỏ.

Cánh kiến đỏ (Laccifer lacca Kerr) thuộc họ cánh kiến đỏ (Lacciferidae), là một loài côn trùng có kích thước nhỏ, thân dài 1,5-2mm ở con đực, 4,5-5mm ở con cái, đầu có một đôi râu chẻ đôi, miệng có vòi để hút nhựa cây. Ngực chia 3 đốt, mỗi đốt có 2 chân phủ đầy lông, phần chót có 2 lông đuôi dài, mảnh và cứng. Cả con đực và con cái đều không có cánh, màu đỏ da cam. Ở dạng ấu trùng, chúng có màu đỏ, kích thước khoảng 0,25-0,5mm.

Rệp cánh kiến đỏ phân bố ở Ấn Độ, Nam Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Ở Việt Nam, nó xuất hiện phổ biến ở Tây Bắc (Lai Châu, Sơn La), Việt Bắc (Tuyên Quang, Hà Giang), Khu 4 cũ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh), Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk) và Tây Nam Bộ (Tây Ninh). Sống chủ yếu trên cây đậu chiều, cọ phèn, vải, táo ta, đề... Sau 3 lần lột xác, ấu trùng trở thành rệp trưởng thành, hút nhựa của cây chủ, rồi chính nó lại tiết nhựa để làm tổ. Nhựa được tiết ra từ các tuyến trên lớp kitin phủ kín thân rệp trừ vùng lỗ thở và hậu môn.

Rệp cánh kiến đỏ.

Rệp cánh kiến đỏ.

Vào tháng 4-5 và tháng 9-10 hằng năm, người ta thu hoạch nhựa cánh kiến đỏ bằng cách cắt những cành có nhựa bao quanh, đem về, gỡ lấy lớp nhựa, dùng bông hoặc vải thấm nước, lau sạch nhiều lần mặt trong, rồi phơi chỗ thoáng gió, râm mát cho khô (không được phơi nắng vì nhiệt độ cao sẽ làm nhựa chảy mềm, kết lại thành cục gây kém phẩm chất). Đó là những phiến dài, nửa hình trụ, dày mỏng không đều, mặt ngoài nhăn nheo, lấm tấm, có màu nâu cánh gián, bên trong màu đỏ tía, chứa 75% nhựa đặc nguyên chất, 4-6% sáp, 6,5% chất màu, 9,5% tạp chất. Thành phần hóa học gồm các chất cao phân tử của acid shellolic và acid aleuritic, tanin, chất sáp là ester của các alcol tachardiacrol và laccerol, chất màu là acid laccaic, một dẫn xuất của anthraquinon có màu đỏ.

Dược liệu tử trùng giao có vị đắng, hơi ngọt mặn, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, cầm máu, hoạt huyết, chữa bạch đới, phụ nữ sau khi sinh bị chóng mặt, chân tay rã rời, ban chẩn, tê liệt. Liều dùng hằng ngày: 4-8g dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác để chữa kinh bế, tích huyết thành báng máu, hòn cục hay u xơ tử cung sinh rong huyết: Tử trùng giao 50g, hồi đầu thảo 30g, nga truật 30g; tất cả phơi hoặc sấy khô, tán bột, rây bột mịn; ngày uống 8-10g chia làm hai lần.

Dùng ngoài, tử trùng giao tán bột mịn, bôi xoa chữa mụn nhọt, hắc lào, ghẻ lở. Dung dịch cồn 5% tử trùng giao dùng chấm vào răng để phòng và trị đau nhức răng, sâu răng. Có thể dùng tử trùng giao làm tá dược để bao thuốc viên chống ẩm.

Chú ý: Tránh nhầm với cánh kiến trắng (Styrax tonkinensis Pierre) là một loài thực vật cho nhựa màu trắng trong với tên thuốc là an tức hương, cũng được dùng làm thuốc chữa bệnh.


TTƯT.DSCKII. Đỗ Huy Bích

Cát cánh: long đờm, trị viêm

Cát cánh chứa các saponin triterpen, phytosterol và nhóm chất tanin. Theo Đông y, cát cánh vị đắng cay, tính hơi ôn; vào kinh phế. Có tác dụng tuyên phế, khứ đàm, lợi yết, bài nùng, khai thông phế khí. Chữa chứng ho nhiều đờm, họng đau nói khàn, viêm họng, lỵ, tiểu tiện không lợi. Liều dùng: 4-12g.

Xin giới thiệu một số đơn thuốc có cát cánh:

Chữa ho đờm ướt (đàm ẩm), tức ngực, nhiều đờm:

Bài 1: cát cánh 8g, tỳ bà diệp (lá nhót tây) 12g, lá dâu 12g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang, uống liền 2 - 4 ngày. Chữa ho do nóng, đờm dính quánh.

Bài 2: cát cánh 8g, hạnh nhân 12g, tía tô 12g, bạc hà 4g. Sắc uống. Uống liền trong 2 - 4 ngày. Chữa ho do lạnh, đờm loãng.

Bài 3: cát cánh 6g, trần bì 6g, bán hạ chế 6g, mạch môn sao 6g, ngưu tất 6g, ngũ vị tử 6g, tiền hồ 6g, ma hoàng 6g. Sắc uống. Chữa ho suyễn nhiều đờm

Cát cánh: long đờm, trị viêmCát cánh.

Chữa khó thở, họng sưng đau (viêm amidan, viêm họng):

Bài 1 - Thang cát cánh: cát cánh 8g, cam thảo 4g. Sắc uống hoặc tán thành bột uống. Chữa họng sưng đau. Chữa phế ung (áp-xe phổi) dùng liều cao hơn gấp 3 - 5 lần.

Bài 2: cát cánh 8g, kim ngân hoa 12g, liên kiều 12g, cam thảo sống 4g. Sắc uống. Chữa viêm amidan.

Chữa cam răng, miệng hôi: Cát cánh, hồi hương; liều lượng bằng nhau, tán bột. Chấm bột vào nơi răng bị cam đã rửa sạch.

Tống mủ, tiêu tan u nhọt:

Bài 1: cát cánh 4g, cam thảo sống 4g, rau diếp cá 8g, bối mẫu 8g, nhân ý dĩ 20g, nhân hạt bí trắng 24g, rễ cỏ tranh 63g, dây kim ngân 12g. Sắc uống. Chữa viêm phổi, đau tức ngực, ho thổ ra đờm.

Bài 2: cát cánh 10g, trần bì 10g, hương phụ 10g, đương quy 15g, mộc hương 5g. Sắc uống. Trị đau tức ngực do chấn thương lâu ngày.

Kiêng kỵ: Người âm hư, ho lâu ngày và có chiều hướng ho ra máu đều không nên uống.

TS. Nguyễn Đức Quang

Thuốc Nam trị bệnh đái tháo đường

Vài năm gần đây nhiều học giả đã không ngừng khám phá không ít các thành phần hoạt tính có trong dược thảo giúp hạ đường huyết, trong đó có một số đã đưa vào sử dụng trên lâm sàng.

Từ dược liệu cổ truyền tìm ra các thành phần hoạt tính thiên nhiên để điều trị bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một lối đi quan trọng trong phát triển hình thành thuốc mới. Hiện nay, người ta khám phá ra thành phần chính giảm đường huyết gồm nhiều loại kết cấu hóa học như: polysaccharides, terpenoids, flavonoids, alcaloids…

Địa hoàng (sinh địa)

Rễ củ tươi hay phơi khô từ cây địa hoàng Rehmannia glutinosa Libosch gồm sinh địa (Radix Rehmanniae) và thục địa (Radix Rehmanniae Preparata). Thuộc họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae).

Bài thuốc ứng dụng:

Bài 1: sơn thù 10g, hoài sơn 15g, sinh địa 12g, mẫu đơn bì 12g, trạch tả 12g, phục linh 12g, sắn dây 15, hạt vải (lệ chi hạch) 30g, sắc uống. Ngày 1 thang, uống 2 lần vào sáng và chiều, 1 tháng là 1 liệu trình.

Công dụng: ôn thận dương, ích thận khí, tư thận âm, tế thận thủy. Hoài sơn trong thang thuốc bổ tỳ âm để hấp thu chất tinh vi; sơn thù thu liễm can khí, làm cho thủy cốc (chất dinh dưỡng) hạ lưu (đi xuống); sinh địa bổ thận dưỡng âm.

Ứng dụng: dùng cho người bệnh đái tháo đường thể thận âm hư suy.

Bài 2: thục địa 20g, huyền sâm 15g, tri mẫu 10g, mạch đông 20g, vỏ kén (tằm) 20 con, hoài sơn (sống) 20g, trạch tả 10g, hoàng kỳ (sống) 20g, phục linh 10g, thương truật 10g, sắc uống. Ngày 1 thang, uống 2 lần vào sáng và chiều, 10 ngày là 1 liệu trình.

Công dụng: tư âm thanh nhiệt, kiện tỳ khu thấp, bổ phổi sinh tân, ích thận liễm tinh.

Ứng dụng: dùng cho người bệnh đái tháo đường.

Kết quả: dùng điều trị 30 ca, uống thuốc 1 - 2 liệu trình, các triệu chứng biến mất, đường huyết đường niệu được kiểm tra liên tục trong 3 tháng đều bình thường, thuộc nhóm khống chế được bệnh gồm 20 ca, triệu chứng biến mất, đường huyết đường niệu giảm xuống gần như bình thường, thuộc nhóm hiệu quả thấy rõ gồm 8 ca, triệu chứng được cải thiện, đường huyết đường niệu có giảm, thuộc nhóm có hiệu quả gồm 1 ca, triệu chứng và đường huyết đường niệu không có cải thiện thấy rõ, thuộc nhóm vô hiệu gồm 1 ca, tổng hiệu suất đạt 96,7%.

Bài 3: sinh địa 30g, hồ hoàng liên 6g, đơn bì 10g, chi tử (sống) 10g, huyền sâm 18g, thỏ ty tử 30g, tri mẫu 12g, thiên hoa phấn 25g, thạch cao (sống) 30g, sắc uống. Ngày 1 thang.

Công dụng: tư âm thanh nhiệt.

Ứng dụng: người bệnh đái tháo đường kèm bệnh mạch vành. Miệng khát mất sức, tiểu nhiều, đau tức ngực sườn, gầy ốm yếu sức, váng đầu ù tai, bụng đầy bụng đau, bắt mạch thấy trầm tế.

Bài 4: hoàng kỳ (sống) 50g, thái tử sâm 15g, sinh địa 15g, huyền sâm 15g, đào nhân 10g, hồng hoa 10g, đương quy 12g, xích thược 12g, giun đất 12g, tang ký sinh 10g, xuyên ngưu tất 10g, sắc uống. Ngày 1 thang.

Công dụng: ích khí dưỡng âm, hoạt huyết thông kinh lạc.

Ứng dụng: người bệnh đái tháo đường kèm diễn biến bệnh mạch máu não ở thể âm dương lưỡng hư kèm huyết ứ. Có triệu chứng miệng khát, liệt nửa người, chi mềm không sức, mắt miệng méo lệch, bắt mạch thấy trầm tế vô lực.

Sắn dây (cát căn)

Sắn dây (Radix Puerariae) là rễ phơi khô từ cây có tên khoa học Pueraria lobata (Willd.) Ohwi hay P. Thomosonii Benth. Thuộc họ Đậu (Fabaceae).

Bài thuốc ứng dụng:

Bài 1: sắn dây 50g, sinh địa 25g, hoàng liên 10g, cam thảo 3g, sắc uống ấm 2 lần, ngày 1 thang. 1 tháng là 1 liệu trình. Sau khi lành bệnh làm món ăn bài thuốc để củng cố (sắn dây 100 - 250g, thêm thức ăn gia vị tiềm ăn).

Công dụng: kiện tỳ ích thận, dưỡng âm thanh nhiệt.

Ứng dụng: bệnh đái tháo đường týp 2. Ăn nhiều, đói khát, mỏi mệt, người bệnh thiên nhiều thể vị âm hư thêm sơn dược 15g, hồng sâm 10g. Người có phiền khát; tiểu nhiều, táo bón, chóng mặt, hoa mắt, thiên nhiều thể thận âm hư thêm hoàng tinh 15g, câu kỷ tử 15g, tri mẫu 10g. Người miệng khát thèm uống; cổ họng khô nóng; nhiều mồ hôi, đoản hơi lười nói, thiên nhiều phế táo âm hư thêm hoàng kỳ 30g, mạch đông 15g, thiên hoa phấn 15g. Bài thuốc này dùng điều trị 64 ca, chữa khỏi 56 ca, biến chuyển tốt 4 ca, tổng hiệu quả đạt tỉ lệ 93,75%.

Bài 2: sắn dây 25g, câu kỷ tử 25g, đơn sâm 15g, sắc hai nước, lấy nước 400ml, mỗi buổi sáng trước khi ăn và buổi chiều sau khi ăn uống 200ml, ngày 1 thang, 2 tháng là 1 liệu trình.

Công dụng: giải khát giảm đường.

Ứng dụng: bệnh đái tháo đường. Người có kèm bệnh mạch vành thêm hoàng kỳ; hổ phách, tam thất, đơn sâm, long xỉ. Người kèm cao huyết áp thêm hạ khô thảo; cúc hoa, câu đằng, sinh địa, linh dương giác. Người kèm lao phổi thêm bách bộ, bách hợp, miết giáp, tri mẫu. Bài thuốc dùng chữa 40 ca đái tháo đường với 1 liệu trình 2 tháng, lành bệnh 30 ca, biến chuyển tốt 8 ca, không hiệu quả 2 ca.

Bài 3: sắn dây 20g, ngọc trúc 20g, ích mẫu 20g, mạch đông 15g, mạch nha (sao) 15g, câu kỷ tử 12g, lá dâu 12g, mẫu đơn bì 12g, kiết cánh 9g, trạch tả 9g, đơn sâm 18g, sắc uống. Ngày 1 thang.

Công dụng: ích âm hoạt huyết, giảm đường giảm béo.

Ứng dụng: bệnh đái tháo đường hay bệnh đái tháo đường kèm biến chứng cao mỡ máu.

LY.DS. DŨNG LỰC

4 thể mất ngủ và thuốc chữa

Mất ngủ là chứng bệnh khá phổ biến hiện nay. Người bệnh khó đi vào giấc ngủ hay ngủ không ngon giấc, ngủ chập chờn, thức dậy khó ngủ lại, thời gian ngủ ngắn, có khi một đêm chỉ ngủ được 2-3 giờ, thậm chí thức trắng đêm, ăn vào bụng đầy khó ngủ, đêm đi tiểu nhiều lần làm mất ngủ... Nếu kéo dài, người bệnh mệt mỏi, suy nhược, ảnh hưởng đến công việc và sinh hoạt hằng ngày.

Theo sách của Hải Thượng Lãn Ông, “ mất ngủ bởi âm huyết có thiếu, ba tạng tâm, can, tỳ đều có bị tổn thương”. Lý luận còn cho rằng “sự ngủ lấy gốc ở âm huyết, mọi nguyên nhân dẫn đến chân âm huyết hao tổn, âm tinh không đủ để nuôi dưỡng lên tâm não đều có thể dẫn đến mất ngủ hoặc gây rối loạn giấc ngủ”. Sau đây là một số bài thuốc cổ phương phòng trị chứng mất ngủ theo thể chứng thường gặp:

Mất ngủ thể tâm tỳ hư

Người bệnh ngủ chập chờn không sâu, mơ màng, mệt mỏi ăn ít. Phép trị chủ yếu bổ tâm tỳ. Dùng bài Quy tỳ thang gia giảm gồm: đảng sâm 12g, bạch truật 12g, phục thần 14g, đương quy 16g, chích hoàng kỳ 14g, táo nhân 12g, viễn chí 10g, long nhãn 12g, mộc hương 6g, chích thảo 4g, đại táo 3 quả, bá tử nhân 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Tác dụng: kiện tỳ, dưỡng tâm, ích khí, bổ huyết... Bài này rất thích hợp với chứng mất ngủ hay quên, mệt mỏi, ăn không ngon, ngủ mơ màng không sâu, tim hồi hộp.

4 thể mất ngủ và thuốc chữa

4 thể mất ngủ và thuốc chữa

Long nhãn và bạch truật là 2 vị thuốc trong bài Quy tỳ thang gia giảm trị mất ngủ thể tâm tỳ hư.

Mất ngủ thể tâm âm hư

Người bệnh khó ngủ, tâm hồi hộp bứt rứt có khi ngủ hoảng sợ. Dùng bài: Dưỡng tâm thang gia giảm gồm: bá tử nhân 12g, táo nhân 12g, đương quy 14g, phục thần 12g, ngũ vị 8g, nhân sâm 12g, mạch môn 12g, thục địa 20g, huyền sâm 12g, thạch xương bồ 6g, cam thảo 4g, đại táo 3 quả. Sắc uống ngày 1 thang, không uống vào buổi tối. Tác dụng: dưỡng tâm, thanh nhiệt, an thần. Bài này thích hợp với chứng tâm âm hư, mất ngủ suy nhược.

Mất ngủ thể thận âm hư

Người bệnh có biểu hiện đêm tiểu nhiều lần mất ngủ, có khi chập tối khó ngủ, về khuya mới ngủ được, hay bị váng đầu ù tai. Nguyên nhân do âm hư hỏa động. Dùng bài Lục vị hoàn gia giảm gồm: thục địa 30g, hoài sơn 20g, đơn bì 16g, sơn thù 14g, phục linh 12g, trạch tả 10g, táo nhân 12g, câu kỷ tử 12g, bá tử nhân 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Tác dụng: bổ thận âm, ích can, an thần, bài này thích hợp chứng thận âm hư mất ngủ, người gầy nóng trong, miệng khô khát.

Nếu đêm về sáng thấy lạnh bụng sôi bụng, đi ngoài mà không ngủ được là do thận dương hư. Dùng bài trên gia thêm nhục quế 6g, phụ tử 6g, can khương 10g.

Mất ngủ thể tỳ khí hư

Người bệnh thường biểu hiện ăn vào bụng đầy, chậm tiêu, khó ngủ. Phép trị: kiện tỳ, tiêu trệ, an thần. Dùng bài Lục quân tử thang gia giảm gồm: bạch truật 12g, đảng sâm, bạch linh 16g, trần bì 12g, bán hạ 8g, chỉ thực 10g, liên nhục 14g, mộc hương 6g, sơn tra 12g, mạch nha 12g, thần khúc 14g, chích thảo 4g. Săc uống ngày 1 thang. Tác dụng: ích khí, kiện tỳ, hóa trệ, an thần. Bài này rất thích hợp cho người bị chứng tỳ khí hư bụng đầy trướng làm khó ngủ, nhiều đàm, rối lạn tiêu hóa.

Trên đây là một số bài thuốc cổ phương thường được các thế hệ thầy thuốc Đông y gia giảm vận dụng chữa mất ngủ rất hiệu quả. Tuy nhiên, phòng trị mất ngủ cần phải lựa chọn bài thuốc phù hợp thể chứng mỗi người mới trị được tận gốc.

BS. Nguyễn Phan Trúc Nguyên



6 lợi ích tuyệt vời của nước ép gừng

Giúp kiểm soát bệnh tiểu đường Gừng có thuộc tính chống tiểu đường và có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nó giúp làm giảm hàm lượng đường huyết...